
I. Niết Bàn (S.iv,261)
1) Một thời Tôn giả Sàriputta ở giữa dân chúng Vajji, trên bờ sông Hằng, tại Ukkavelà.
2) Rồi du sĩ Sàmandaka đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, du sĩ Sàmandaka thưa với Tôn giả Sàriputta:
— “Niết-bàn, Niết-bàn”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn? (Giống như kinh trước, Chương Bốn I, từ số 3 đến số 6.)
II-XV.(S.iv,262)
(Giống như trong Chương Bốn, số 2-15, với những thay đổi cần thiết).
XVI. Khó Làm (S.iv,262)
(Giống như Chương Bốn, số 16)
—
Thành kính tri ân công lao to lớn của Hòa thượng Thích Minh Châu đã dịch Việt từ nguyên bản tiếng Pali 5 bộ Kinh Nikaya – văn bản đáng tin cậy nhất lưu giữ những lời dạy gốc của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni.
Từ khóa:
TRỞ VỀ MỤC LỤC KINH TƯƠNG ƯNG BỘ
Tổng hợp – so sánh – chọn lọc từ nhiều nguồn uy tín: kinh sách, sách in, các trang mạng,…
Xin được cảm ơn và tri ân tất cả những cá nhân đã cống hiến thời gian, công sức, của cải, tâm huyết để thu thập, đánh máy, ghi âm, lưu trữ, ấn tống và chia sẻ miễn phí những tư liệu quý giá này.