Trích Lời Giới Thiệu Kinh Tương Ưng Bộ – Tập I – Hòa Thượng Thích Minh Châu – 1977

ĐỌC | NGHE SÁCH NÓI | SÁCH PDF | YOUTUBE

Bộ này gồm tất cả 5 tập. Tập I bắt đầu dịch ngày 18/8/1974, đến ngày 3/5/1975 mới hoàn thành, mất hơn 8 tháng. Tập II bắt đầu dịch ngày 19/6/1975, được hoàn thành ngày 18/10/1975, mất 4 tháng. Tập III bắt đầu dịch ngày 21/10/1975, được hoàn thành ngày 29/1/1976, mất 3 tháng 8 ngày. Tập IV được phiên dịch bắt đầu ngày 31/1/1976, hoàn thành ngày 1/6/1976, mất 4 tháng. Tập V bắt đầu ngày 20/6/1976 và hoàn thành ngày 22/9/1976, mất hơn 3 tháng.

Nếu chúng ta so sánh thời gian bà Rhys Davids và ông Woodward đã dùng để dịch toàn bộ Samyutta Nikaya ra tiếng Anh là 14 năm (xin xem Lời giới thiệu tập V của bà Rhys Davids) thì thời gian 1 năm 10 tháng của chúng tôi cũng có thể được xem là khá nhanh. Nếu so sánh với hai bộ trước, Kinh Trường Bộ (Digha Nikaya) 4 tập, phải dịch mất 7 năm từ năm 1965 đến năm 1972, Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikaya) 3 tập, phải mất 3 năm từ năm 1973 đến năm 1975, thời Kinh Tương Ưng Bộ này chỉ mất 1 năm 10 tháng có thể xem là khá nhanh chóng.

Sở dĩ chúng tôi hoàn thành mau chóng bản dịch này là do sau ngày đất nước thống nhất, chúng tôi được khỏi lo về trách nhiệm giáo dục thế học nên đã toàn lực, toàn tâm và toàn thì giờ vào phiên dịch. Trong khi chúng tôi phiên dịch tập này, chúng tôi sử dụng nguyên bản tiếng Pali của hội Pali Text Society nhưng rất tiếc chúng tôi không có tập thứ ba thành ra phải sử dụng bản Pali của viện Đại học Nalanda bằng chữ Devanagari. Do vậy, không làm sao tránh được những khó khăn do những bản sai khác gây nên. Chúng tôi cũng được sử dụng bản tiếng Anh của hội Pali Text Society và bản dịch Nam Truyền Đại Tạng Kinh bằng chữ Nhật, nhưng không có thể so sánh với bản dịch tiếng Campuchia, tiếng Thái hay tiếng Miến Điện, nên khó lòng tránh khỏi các khiếm khuyết.

Về chú thích, chúng tôi trích dùng một số chú thích trong bản dịch của hội Pali Text Society. Đúng lý chúng tôi phải ghi chú những sai khác căn bản giữa các kinh Pali và các kinh Hán Tạng tương đương nhưng vì không có thì giờ nên đành gác lại, chờ sau khi hoàn thành 5 bộ Kinh Tạng Pali.

Chúng tôi thấy rõ có ba khuyết điểm lớn trong sự phiên dịch hiện tại của chúng tôi. Thứ nhất là không thể tra cứu các bản dịch Miến Điện, Thái Lan và Campuchia hiện có mặt tại thư viện Viện Phật Học Vạn Hạnh, vì lý do dễ hiểu là không có người giỏi các thứ tiếng trên giúp đỡ. Khuyết điểm thứ hai, chúng tôi chưa có thể so sánh với bộ Tạp A Hàm Kinh, tức là bộ trong Hán tạng tương đương với bộ Kinh Tương Ưng Pali. Sự so sánh này sẽ làm nổi bật các điểm dị đồng giữa hai bộ, những điểm tương đồng sẽ xác chứng phần giáo lý nguyên thủy mà hai bộ ấy tàng trữ, những điểm dị biệt nói lên sự dị biệt giữa các học phái, và đây là những tài liệu quan trọng giúp chúng ta, một mặt tìm hiểu được giáo lý nguyên thủy, một mặt cho thấy rõ sự phát triển của các học phái.

Ngoài ra, hai bộ Pali và Hán sẽ bổ sung cho nhau, làm sáng tỏ những đoạn tối nghĩa trong cả hai bộ, và hai bộ sẽ bổ túc lẫn nhau rất là tốt đẹp. Nếu người phương Tây biết nhiều đến tạng Pali thì trái lại họ biết rất mù mờ về Hán tạng, và những ai biết Hán tạng lại không biết đến Pali. Đây có thể là một lãnh vực mà Phật giáo Việt Nam chúng ta có thể cống hiến cho nền văn học Phật giáo quốc tế nếu chúng ta khôn khéo khai thác lãnh vực này.

Khuyết điểm thứ ba của chúng tôi là không có thì giờ soạn các bản phụ lục hoặc về địa danh, hoặc về nhân danh, hoặc về nội dung đã được đề cập đến trong bản dịch của chúng tôi để giúp các học giả nghiên cứu. Chúng tôi rất tiếc là không có thì giờ và không có các phụ khảo có khả năng để giúp đỡ chúng tôi trong công trình này. Một khuyết điểm mà chúng tôi chỉ có thể bổ túc sau này khi hoàn thành phiên dịch 5 bộ Kinh tạng Pali.

Chúng tôi xem sự nghiệp phiên dịch Kinh tạng như là một bổn phận phải làm đối với những ai được may mắn du học tại Ấn Độ. Gương của ngài Pháp Hiển trong thế kỷ thứ IV, gương của ngài Huyền Trang trong thế kỷ thứ VII và gương của ngài Nghĩa Tịnh trong cuối thế kỷ thứ VII cho chúng ta thấy, dịch kinh là một nhiệm vụ thiêng liêng phải làm và đã làm thời phải làm cho đến nơi đến chốn. Lại nghĩ đến các vị đã dịch những kinh điển Sanskrit hay Pravit ra chữ Hán như ngài Phật-đà-da-xá (Buddhayasas) đã dịch bộ Trường A Hàm Kinh, ngài Tăng-già-đề-bà (Sangadeva) đã dịch bộ Trung A Hàm Kinh,… thời tự nhiên chúng tôi phải neo theo gương sáng của các ngài, đóng góp một cách khiêm tốn vào sự nghiệp phiên dịch này.

Hơn nữa, chúng ta cũng không thể không nhắc đến một số chư tăng Việt Nam đã du học và chiêm bái ở Ấn Độ như ngài Vận Kỳ vào thế kỷ thứ VII giỏi Phạn ngữ và Hán ngữ đã từng du hành qua Xava, Trung Quốc và Ấn Độ. Pháp sư Giải Thoát Thiên (tên chữ Phạn là Bodsadeva) đã qua Ấn Độ bằng đường thủy và viếng thăm Bồ Đề Đạo Tràng. Pháp sư Khuy-xung (tên chữ Phạn là Chitradeva) qua Tích Lan rồi qua Ấn Độ, có đến Bồ Đề Đạo Tràng và Vương Xá rồi mệnh chung ở Trúc Lâm (Vương Xá). Pháp sư Huệ Nhiễm đi du hành ở Tích Lan và ở luôn tu học tại đấy. Pháp sư Trí Hành người Ái Châu, Thanh Hóa (tên Phạn ngữ là Prajnadeva) đi Ấn Độ bằng thuyền, ngài lên miền bắc sông Hằng và tu tại chùa Tính Giả rồi tịch lúc 50 tuổi. Ngài Đại Thừa Đăng (tên chữ Phạn là Mahayanapradiba) xuất gia ở Dapravati, Ấn Độ sau đó về Trường An thọ giới Tỷ-kheo với ngài Huyền Trang rồi đi Tích Lan bằng đường biển tới nam Ấn Độ, đi về phía đông cùng với ngài Nghĩa Tịnh đi đến Phật học viện Nalanda, Bồ Đề Đạo Tràng, Vesali rồi Kusinara. Ngài mất tại chùa Parinirvana ở Kusinara, tuổi chừng quá 60. (Trích Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lan).

Chính vì nhớ đến công đức lớn lao của những vị tiền bối đã du hành qua Ấn Độ cầu đạo và chiêm bái mà chúng tôi tự nghĩ mình đã may mắn được tu học ở Tích Lan và Ấn Độ hơn 10 năm, nay về nước phải đóng góp một sự nghiệp gì cho Quốc gia và đạo Phật và vì vậy chúng tôi mới chọn lấy trách nhiệm phiên dịch 5 bộ Kinh tạng Pali ra tiếng Việt.

Hơn nữa, chúng tôi cũng rất muốn đóng góp vào trách nhiệm xây dựng một Đại Tạng Kinh Việt Nam với những khả năng khiêm tốn của mình. Chúng tôi nghĩ đến một số học giả người Anh trong hội Pali Text Society, khoảng độ 15 đến 20 vị, trong khoảng không đầy 80 năm đã phiên dịch và in các nguyên bản Atthakatha, chú giải nữa. Phật tử Việt Nam chúng ta nói nhiều mà làm ít nên mãi cho đến nay, gần 2000 năm Phật sử mà vẫn chưa xây dựng được một Đại Tạng Kinh Việt Nam.

Chúng tôi lựa Kinh tạng Pali để phiên dịch là có một dụng ý rõ rệt. Trong Kinh tạng của đủ cả Luật tạng (Vinaya), A-tỳ-đàm tạng (Abhidhamma) và Kinh tạng (Sutta) chứa đựng nhiều lời dạy nguyên thủy nhất. Ngày nay chúng ta phải đi tìm lại thật sự Đức Phật đã dạy những gì, khỏi phải qua những lăng kính, những giải thích của các học phái, khỏi phải chịu đựng những phát triển, những chế biến về mặt giáo lý cũng như pháp môn tu hành, làm biến dạng và xuyên tạc những giáo lý và những pháp môn căn bản của Đạo Phật.

Đức Phật là một con người nhờ sự tu hành được giải thoát, đã bị biến thành một vị thần linh ban phước giáng họa, được siêu nhân hóa trở thành một vị phi nhân. Các pháp môn tu hành là những phương pháp huấn luyện thân, huấn luyện tâm, huấn luyện trí đã trở thành những hình thức lễ nghi, bùa chú, phù phép để cầu danh, cầu lợi. Vì vậy, chúng ta cần phải đọc những tài liệu nguyên thủy, và muốn vậy chúng ta phải nghiên cứu Kinh tạng, và Kinh tạng này phải là Kinh tạng Pali và tạng A Hàm. Việc phiên dịch Kinh tạng Pali của chúng tôi cũng nằm trong chiều hướng này và cũng là một sự khuyến khích trực tiếp hay gián tiếp để Kinh tạng A Hàm được phiên dịch từ Hán tạng ra tiếng Việt.

Chúng tôi không có thì giờ đi sâu vào nội dung của bộ Kinh Tương ưng này, nhưng chúng tôi có thể nêu rõ ba đặc điểm của bộ này để cống hiến cho các học giả và các Phật tử.
Đặc điểm thứ nhất là các kinh điển trong bộ kinh này được phân loại theo từng vấn đề liên hệ với nhau (saṃyutta) như tên kinh được đặt ra. Ví như trong tập V, các kinh liên hệ đến bảy giác chi được sắp đặt trong chương Tương ưng Giác chi (Bojjhanga Saṃyutta); các kinh liên hệ đến bốn niệm xứ được sắp đặt trong chương Tương ưng Niệm xứ (Satipatthana Saṃyutta). Như vậy, các kinh liên hệ chung một vấn đề đều được quy tụ trong một chương riêng biệt và như vậy rất dễ cho phần nghiên cứu và tìm hiểu. Quý vị muốn tìm hiểu về pháp môn Anapanasati (Niệm hơi thở vô, hơi thở ra), thời xin tìm tập V chương X, Tương ưng Hơi thở vô, hơi thở ra (Anapana Saṃyutta) là tìm ra ngay. Các kinh của Kinh Tương ưng bộ tương đối ngắn so với các kinh trong Kinh Trường bộ, hay Kinh Trung bộ, nhưng nhờ phân loại theo từng vấn đề tương ưng, nên mỗi vấn đề được đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau, và được quy tụ trong một Tương ưng (Saṃyutta), rất tiện cho vấn đề nghiên cứu.

Đặc điểm thứ hai của bộ này là vấn đề định nghĩa từng danh từ, định nghĩa từng vấn đề và nhờ vậy đem lại một quan niệm rất rõ ràng, rất chính xác của từng vấn đề một. Chúng tôi xin đơn cử một ví dụ về bốn như ý túc.

“Thế nào là như ý? Ở đây, vị Tỷ-kheo thực hiện nhiều thần thông… gọi là như ý. Này các Tỷ-kheo, thế nào là như ý túc? Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến chứng được như ý, chứng đắc như ý. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý túc” (tập V).

“Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo nương tựa dục được định, được nhất tâm, đây gọi là dục định. Đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, vị ấy khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Đối với các ác, bất thiện pháp đã sanh… Đối với các thiện pháp chưa sanh… Đối với các thiện pháp đã sanh, vị ấy khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Những pháp này được gọi là tinh cần hành. Như vậy, đây là dục, đây là dục định, và những pháp này là tinh cần hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành”. Như vậy, “chandasamādhi padhānasaṅkhārasamannāgata iddhipāda”, dịch là “Như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành” đã được định nghĩa rất rõ ràng. Ví dụ như vậy trong kinh này rất nhiều và vì vậy mà bộ kinh này giúp chúng ta nắm vững được định nghĩa của từng vấn đề, khỏi bị những sự lệch lạc xuyên tạc gây hiểu lầm về sau.

Đặc điểm thứ ba của bộ này là sự quy tụ gần như đầy đủ 37 pháp môn tu hành chính của đạo Phật, từ tám chánh đạo đến bảy giác chi, bốn niệm xứ, năm căn, năm lực, bốn chánh cần, bốn như ý túc, thiền niệm hơi thở vô hơi thở ra, đều được phân loại trong tập V của Kinh Tương ưng bộ. Cũng chính nhờ phiên dịch tập V Kinh Tương ưng bộ, chúng tôi khám phá ra được pháp môn Anāpānasati (Niệm hơi thở vô, hơi thở ra), một pháp thiền điều hòa thân, điều hòa hơi thở, điều hòa tâm, một pháp môn nằm trong bốn niệm xứ (satipaṭṭhāna), niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp; một pháp môn dùng hơi thở vô, hơi thở ra làm đối tượng hành trì, một pháp môn trong một hơi thở vừa phát triển niệm, vừa phát triển định, vừa phát triển tuệ, và như vậy tăng trưởng cả niệm căn, niệm lực, định căn, định lực, tuệ căn, tuệ lực. Pháp môn này đem giới thiệu với các Phật tử, được các Phật tử nhiệt liệt hưởng ứng hành trì. Chúng tôi rất tiếc là không có thì giờ để đi sâu vào nội dung và giới thiệu thêm cho quý vị những đóng góp về Chánh pháp của Kinh Tương ưng bộ này. Nhưng điều chúng tôi tin tưởng một cách chắc chắn rằng, với bốn bộ Kinh Trường bộKinh Trung bộKinh Tương ưng bộKinh Tăng chi bộ, đã được phiên dịch và phổ biến, với Kinh Tiểu bộ đang được phiên dịch, chúng tôi có thể xem là đã xây dựng được những cơ sở căn bản cho một Đại Tạng Kinh Việt Nam, cống hiến cho các Phật tử và các học giả nghiên cứu đạo Phật những tài liệu học hỏi và nghiên cứu thật sự chính xác về nguyên thủy, hay gần nguyên thủy nhất của đạo Phật.”


Thành kính tri ân công lao to lớn của Hòa thượng Thích Minh Châu đã dịch Việt từ nguyên bản tiếng Pali 5 bộ Kinh Nikaya – văn bản đáng tin cậy nhất lưu giữ những lời dạy gốc của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni.

TRỞ VỀ MỤC LỤC KINH TƯƠNG ƯNG BỘ


Tổng hợp – so sánh – chọn lọc từ nhiều nguồn uy tín: kinh sách, sách in, các trang mạng,…
Xin được cảm ơn và tri ân tất cả những cá nhân đã cống hiến thời gian, công sức, của cải, tâm huyết để thu thập, đánh máy, ghi âm, lưu trữ, ấn tống và chia sẻ miễn phí những tư liệu quý giá này.

SÁCH PDF

YOUTUBE